Võ Tánh, Bạn Bè Trong Ký Ức Tôi
- Sep 16, 2016
- 14 min read
Mùa hè năm 1957, tôi vừa đúng 11 tuổi, "tốt nghiệp" tiểu học trường Tiểu Học Khánh Hòa. Tỉnh Khánh Hòa thời đó đã có nhiều trường tiểu học công lập, trường tôi nằm trong địa hạt Thành-Diên Khánh, trước cửa Quận đường, chung quanh được bao bọc bởi một vòng thành vuông vức kiên cố với bốn cửa Đông, Tây, Tiền, Hậu thật uy nghiêm, có lẽ vì vậy mà trường tôi có cái hân hạnh mang tên trường tiểu học của tỉnh. Nhà tôi ở tận trong làng quê, cách Thành gần 3 cây số và từ Thành xuống Nha Trang phải đi thêm 10 cây số nữa. Đầu hè năm đó, theo sự chỉ dẫn của một học sinh đàn anh trong xóm, tôi một mình, lần đầu tiên đạp xe đạp từ nhà đi Nhatrang để nộp đơn xin thi vào Đệ Thất trường trung học Võ Tánh.
Tôi tìm được đến trường vào lúc gần trưa. Bây giờ là đầu hè, học sinh đã nghĩ học nên sân trường vắng vẽ không thấy một ai qua lại. Trường quá lớn với tầm mắt tôi lúc đó, một dãy lầu chạy dài dọc theo con đường Bá Đa Lộc, nằm kín đáo sau bức tường vôi cao quá đầu bao quanh một khuôn viên mà tôi không biết rộng đến đâu. Nhìn hàng chữ khắc nổi bằng xi-măng, sơn vôi màu trắng: Trường Trung Học Võ Tánh. Tôi thấy lòng mình thật rộn ràng. Tôi chưa biết phải gửi chiếc xe đạp của mình ở đâu để vào trường tìm văn phòng mà nộp đơn thì chợt thấy một chàng nhóc, chắc cũng trạc tuổi tôi, đạp xe từ hướng biển lên, vừa đi qua mặt tôi anh ta đã quẹo gắt xe lại (U-turn) thắng gấp cái rẹt trước mặt tôi, hất hàm hỏi:
- Muốn nộp đơn thi Đệ Thất hả?
Tôi gật đầu như cái máy rồi mới nhìn kỹ anh ta. Anh chàng mặc chiếc quần đùi tắm, áo thun ngắn tay, chân không đi dép và dính đầy cát, da ngâm ngâm đen và tóc thì màu vàng vàng trông rất lạ mắt. Chắc anh ta vừa mới tắm biển về. Tuy cách hỏi của anh ta hơi có vẽ kẽ cả nhưng không hiểu sao tôi lại thấy dễ gần gũi. Anh ta dùng chân hất cái chân chóng dựng xe xong nói như ra lệnh:
- Giữ xe đi, đưa đơn đây đi nộp cho.
Trong lòng tôi muốn đi theo anh ta cho chắc ăn nhưng nghĩ lại không ai giữ hai chiếc xe nên tôi đành đưa cuộn giấy đang cầm trên tay cho anh ta, trong đó có đủ hồ sơ xin thi gồm có giấy khai sanh, chứng chỉ tiểu học và đơn xin thi vào Đệ Thất. Anh ta cầm cuộn giấy tôi trao không cần mở ra xem trong đó có những giấy tờ gì, băng nhanh qua đường, lách qua cổng nhỏ bên hông, có vẽ như rành rẽ lắm, đi thẳng vào trong sân trường rồi mất dạng. Tôi một mình đứng giữ xe và đợi, lòng thầm mong cho đơn mình được nhận, rồi thi đậu được vào trường này học thì sướng biết bao! Cùng lúc tôi cũng lờ mờ hiểu rằng nếu tôi không thi đậu được kỳ này thì có lẽ tôi sẽ bị nghỉ học. Ba tôi mất từ lúc tôi mới lên năm, anh chị đã lập gia đình và đều sống bằng nghề nông, anh kế thì đã vào lính và ở xa, tôi là con út sống với mẹ ở trong quê. Thi đậu được học trường công thì mẹ tôi còn lo được nhưng nếu thi rớt, chắc tôi không thể nào theo học nổi các trường tư thục, dù chỉ học một năm tiếp-liên để chờ năm sau thi lại. Tôi đang nghĩ miên man được một lúc thì đã thấy anh ta đi ra, không thấy có cuộn giấy gói đơn xin thi trong tay anh, tôi có bụng mừng chưa kịp hỏi, anh ta đã nói:
- Xong rồi, về đi. Ngày … tháng … xuống xem niêm yết số ký danh để biết phòng thi.
Anh ta lấy xe rồi đạp vèo đi như là tôi không có gì cần phải hỏi thêm. Tôi đứng nhìn theo ngỡ ngàng, vừa mừng, vừa lo vẫn vơ. Tôi lo không biết có chắc anh ta đã nộp đơn giùm mình được không? Cho tới bây giờ tôi cũng không biết rõ ngày đó sau khi nộp đơn, người nhận đơn có cấp cho biên lai xác nhận là đã nhận đơn, cho biết ngày tháng đi xem số ký danh và ngày thi không mà sao không thấy anh ta đưa cho tôi. Tôi lo nhưng không dám nói chuyện này với ai, nói với người lớn thì sợ bị la, nói với bạn đồng lứa thì sợ đứa nói thế này, đứa nói thế kia tôi lại lo thêm. Tôi chỉ lo riêng tư một mình suốt gần một tháng mãi cho đến ngày như anh ta dặn, xuống lại trường xem thấy có tên mình, có số ký danh trên bảng niêm yết hẳn hoi mới mừng, hết lo và cứ thầm cám ơn người "ân nhân" nhỏ không quen, tốt bụng.
Sau này khi được vào Võ Tánh học rồi, thỉnh thỏang tôi có để ý tìm xem có gặp anh ta không, nhưng không gặp. Có lẽ tuổi trẻ cũng dễ quên nên sau đó tôi đã không tìm nữa. Sau này khi đã ra đời, mỗi khi có dịp nghĩ đến một vài kỷ niệm xưa ở Võ Tánh tôi đều nhớ lại chuyện này và đã hơn một lần tôi nghĩ, nếu ngày đó tôi gặp phải một người khác không tốt bụng như anh, đơn xin thi của tôi không được nộp mà bị vứt bỏ đâu đó, mùa thi đó tôi không được thi, đương nhiên tôi phải bỏ học, tương lai tôi thật không thể tưởng tượng được rồi sẽ ra sao?
Ôi! tuổi trẻ của thế hệ chúng tôi lúc đó sao mà trong sáng dễ thương! Tôi thì thật thà dễ tin người và bạn cùng trang lứa thì tốt bụng, giúp người khác một cách tự nhiên vô tư như là bổn phận của mình không cần phải đợi người ta lên tiếng nhờ vã.
Tôi được đậu vào Đệ Thất trường Võ Tánh kỳ thi năm đó. Buổi nhập học đầu tiên, tuy không phải: Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi đẫn đi trên con đường làng dài và hẹp như cậu học trò nhỏ của Thanh Tịnh, tôi một mình đạp xe từ nhà đến trường 13 cây số đổ mồ hôi lưng để kịp điểm danh vào lớp mà lòng cũng nao nức, rộn ràng không kém. Tất cả sĩ tử mới đậu vào Đệ Thất, sắp hàng ngay ngắn ở sân sau, giữa dãy lầu phía trước và khu nhà thấp vuông vức phía sau, chờ được gọi tên vào lớp. Trên bậc thềm, một thầy đứng tuổi mang kiếng trắng gọi tên từng học sinh (sau này tôi biết đó là thầy Huy, Giám Thị), một thầy da ngâm ngâm đen, dáng dấp có vẽ bình dị hiền lành đi qua đi lại (thầy Thanh, Giám Thị ) và một thầy mập mạp, hơi lùn, miệng luôn ngậm ống píp, thỉnh thỏang lấy xuống rồi đưa lên ngậm lại, đứng gần thầy Huy (thầy Giám Thị Võ Thành Điểm). Tất cả các thầy đều mang cà vạt thật là oai vệ. Tôi hồi hộp lắng nghe thầy đọc tên mình. Nữ sinh được gọi tên trước và được thầy Thanh chỉ đi vào lớp Thất 1. Tôi nghe tên một vài người quen cùng lớp ở tiểu học Khánh Hòa: Trần Thị Xuân Hoa, Nguyễn Thi Thu Hương, Nguyễn Thị Danh, thì ra các nàng này cũng đậu vào đây với mình mà hôm trước xem bảng mình không để ý. Hương và Danh thì học cùng lớp Nhất A của cô Quang với tôi còn Hoa thì học trước tôi một lớp. Tuy học khác lớp nhưng tôi biết Hoa là vì ở trường Hoa hát hay nhất. Ngày Tết hoặc cuối năm học, dịp lễ phát phần thưởng Hoa được lên sân khấu hát có micro, có đàn đệm, có phụ huynh đến xem. Hoa vừa đẹp vừa hát hay vì vậy mà ở tuổi 10, 11 thơ ngây của tôi cũng phải "ngưỡng mộ" nên lúc mới nghe đọc tên nàng là tôi nhận ra được ngay. Điều tôi ngạc nhiên là tại sao trường Khánh Hòa có đến ba lớp Nhất A, B và C, khỏang 150 học sinh, chúng tôi biết nhau hết vậy mà lớp Nhất A (có một nửa là nữ sinh) của cô Quang chỉ có tôi, Hương và Danh đậu còn các tên đực rựa khác của hai lớp kia sao không thấy tên nào? Chẳng lẽ chúng nó rớt hết. Nếu tôi nhớ không lầm thì những năm đó từ Phú Yên đến Phan Thiết chỉ có mỗi Võ Tánh là trường trung học công lập. Vì vậy mà đậu được vào trường này học, được mặc đồng phục quần xanh áo trắng, trên túi áo có thêu bốn chữ bằng chỉ màu đỏ: Trung Học Võ Tánh thì trò nào cũng cảm thấy như mình oai phong lắm.
Không biết có phải vì những năm ở trung học Võ Tánh tôi chơi nhiều hơn học hay không mà khi ra đời kể cả cho đến bây giờ, trong "bộ nhớ" của tôi ít thấy có những người bạn học giỏi, học kém nhưng lại thấy có nhiều nhân vật "nổi cộm" ở lãnh vực khác của thời đó.
Ngô Năm, mập và to con, dáng đi hiên ngang và giọng nói nghênh ngang như tay anh chị thứ thiệt. Thực ra Ngô Năm cũng rất hiền và tốt với bạn bè. Năm chơi thân với Nguyễn Thắng Hiền, Ngô Xuân Hòang, Lê Đình Hội, Võ Thế Hạ … tòan là người tử tế nên đối với Ngô Năm nên dùng chữ "quậy" đúng hơn là anh chị. Nam sinh cùng lớp không thấy ai sợ nhưng nữ sinh, chỉ cần thấy hay nghe tiếng nói của Ngô Năm từ xa là các nàng đã vội né tránh. Tôi còn nhớ năm Tứ 2, người vừa sợ vừa né Ngô Năm nhất là Tôn Nữ Ngọc Hà và Lê Thị Hồng Mơ. Thực sự tôi chưa thấy Ngô Năm làm gì khiến cho hai nàng này phải sợ. Tôi cũng thuộc lọai không hiền, nhưng các nàng cũng không phải tránh đến như vậy, trái lại các nàng đó vì ngồi bàn trước mặt tôi, đôi khi nhìn lên bảng đen để chép bài, mái tóc thề rất Huế của Ngọc Hà và mái tóc dài với chiếc kẹp tóc to bảng rất Thành-Diên Khánh của Hồng Mơ đã làm phiền mắt tôi thì có. Nếu không có một trận "thư hùng", không rõ lý do, giữa Ngô Năm và Bùi Thông, cùng trường nhưng khác lớp, ở sân vận động Nhatrang trưa hôm đó, thì chắc Ngô Năm cũng không nổi tiếng như nó đã nổi tiếng. Đám học trò chúng tôi đi theo ủng hộ cho cả hai phe có đến vài chục người. Vừa mới buông cặp xuống đất, thủ thế là Ngô Năm nhào tới tấn công Bùi Thông tới tấp. Thông không đở kịp té nhào, máu miệng, máu mũi chảy ướt cả chiếc áo trắng học trò. Thông đưa tay ra dấu đầu hàng. Ngô Năm cũng đưa hai tay lên la: Thắng rồi, đánh chưa đã tay đã thắng. Trận đấu diễn ra chắc chỉ độ một phút. Tôi vốn có biết được chút ít thế võ và một vài bài quyền Thiếu Lâm do ông anh lúc còn ở nhà dạy cho, ngứa nghề tôi buột miệng nói:
- Ngô Năm nó mạnh chứ đâu có biết võ nghệ gì.
Lê Đình Hội đứng bên cạnh lên tiếng:
- Bộ mày biết võ hả? mày dám đánh với Ngô Năm không? Nó nói đánh chưa đã tay kìa.
Tôi biết mình lỡ lời, im lặng rút lui.
Sau này vào lính, Ngô Năm cũng là tay nổi tiếng xếp sòng, đánh giặc cũng như ăn chơi ở vùng Rừng Sát -Bà Rịa. Bây giờ nằm bên Úc Châu làm con Hổ ngủ nhớ Rừng (Sát). Tôi có gọi đánh thức hắn dậy một lần nhưng mấy lúc sau này cũng ít khi nghe hắn lên tiếng.
Lê Đình Hội và Võ Thế Hạ thường đến nhà Phạm Bá Rục chơi, tôi cũng ở trọ học sát cạnh nhà Rục nên chúng tôi thường gặp nhau. Rục bị tật cả hai chân từ nhỏ, đi học phải đi bằng xích lô. Tôi thỉnh thỏang chở giùm Rục về bằng xe đạp mỗi khi lớp có thầy, cô nghỉ dạy bất ngờ ông xích lô không biết để tới đón. Hội mon men hỏi tôi về trận đánh hôm trước và khi biết tôi có biết chút ít võ Thiếu Lâm thì nó dụ tôi chỉ cho nó, ngược lại nó dạy Judo cho tôi. Tôi chỉ biết vài thế võ căn bản, Hội thì tuy Judo thuộc lọai khá nhưng cả hai đều không biết cách chỉ dạy nhau, nên chỉ được một thời gian ngắn là cả hai đều chán không tập nữa. Sau này vào quân đội tôi chỉ được gặp lại Hội một lần ở tiểu khu Phú Yên vào khỏang năm 70, 71 khi tôi công tác ở Đài Kiểm Báo trên núi Chóp Chài, xuống phố Tuy Hòa chơi. Sau này khi sang Mỹ gặp lại bạn bè tôi mới biết Hội đã chết trong trại tù cải tạo. Phạm Bá Rục thì bệnh chết khi đang học đại học ở Saigon và, Võ Thế Hạ thì lái trực thăng về Ninh Hòa thăm gia đình, khi đi cánh quạt vướng anten hay dây điện gì đó, trực thăng rớt chết ngay trong thành phố gần nhà.
Nhân vật kế là Đào Đàm, con của thầy Đào Trữ. Thầy Trữ dạy chúng tôi năm thì tóan năm thì Pháp văn. Tôi ngưỡng mộ Đào Đàm hết cỡ. Một học trò nhà quê ra tỉnh học như tôi, những hôm gặp bài làm khó, không có ai để nhờ giúp đành chịu chết chờ đến mai vào lớp nghe thầy giảng hoặc nếu bị gọi lên bảng thì chỉ có nước lãnh đủ một cặp trứng vịt. Ban B, Pháp văn tất nhiên tóan và Pháp văn là hai môn chính, có Ba là thầy giáo dạy ở trường cả hai môn đó thì còn gì bằng. Chưa hết, Đàm có phong thái của một công tử con nhà giàu, đầu tóc lúc nào cũng để dài tới gáy, chải dầu láng cóong, áo quần thì luôn luôn sạch sẽ, ủi thẳng nếp. Trong khi nhiều học sinh khác như tôi, mang sandale mòn bẹt đế có khi còn mang cả dép Nhật đi học thì Đào Đàm mang giày đế cứng, bước đi trên nền lớp học sột sọat nghe muốn nổi da gà. Một lần tôi và một vài người bạn cùng lớp đến nhà Đàm chơi, tôi được biết thêm, Đàm còn học đàn và học nhu đạo với thầy Trần Thanh Lý ở Judo club, đường Duy Tân dưới bờ biển. Năm chúng tôi 16, 17 tuổi, muốn vào các tiệm chè trước rạp hát Tân Tiến ăn ly chè ba màu hay ly sâm bổ lượng còn ngại không dám vào một mình nhưng Đào Đàm thì đã dám vào các snack bar dưới bờ biển gọi bia uống tán dóc với các nàng, tuổi các nàng chắc phải lớn hơn chúng tôi. Vì cá tính bay bướm ăn chơi nên đường công danh của Đào Đàm nghe đâu cũng dỡ dang, lận đận.
Nhắc đến bạn học ngày xưa tôi không thể không nhắc đến Nguyễn Văn Kính, người có chỗ đứng thân tình và đậm nét nhất trong ký ức của tôi.
Nhà Kính ở Phú Vinh, gần bến đò Xuân Phong, cha mẹ làm ruộng tận trong Bình Tuy. Kính ở nhà với ông Nội lúc đó chắc cũng khỏang trên dưới 70 tuổi. Cha mẹ nghèo ở xa, ông Nội cũng nghèo nên Kính đi học thiếu thốn đủ mọi thứ. Nghèo, học hành trung bình nhưng tánh tình thì lạc quan, phóng khóang và rất nghệ sĩ. Từ năm Đệ Tứ, Kính đã biết làm thơ tuy tôi chưa thấy nó gửi cho báo nào đăng. Có lần tôi hỏi nó: mày làm thơ nhiều sao môn Việt văn mày không giỏi? Nó trả lời: Văn và thơ là hai lãnh vực, hai năng khiếu khác nhau. Ở trường thầy có bắt làm thơ bao giờ đâu mà tao có được điểm cao. Tôi thấy nó cũng có lý. Chơi với Kính tôi bắt đầu thích và thuộc thơ của Văn Cao, Quang Dũng, Nhất Tuấn rồi Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, T.T.KH v.v… tòan thơ tiền chiến và yêu đương trữ tình rất thích hợp với tuổi mới lớn lại có chút máu văn nghệ như tôi với Kính. Mùa hè, Kính dắt tôi vào thư viện Công Giáo ở đường Lê Thánh Tôn, gần Ngã Sáu và phòng đọc sách Ty Thông Tin đọc muốn hết sách truyện, tiểu thuyết có ở đó. Thời đó vào mùa thi, có một số sĩ tử, dĩ nhiên chỉ có nam sinh, đêm ra ngồi học bài dưới các trụ đèn đường trong một vài công viên như trước Ty Thông Tin mà tôi và Kính thường đến. Có lẽ một phần vì trong nhà mùa hè nóng nực, nhiều nhà không có quạt máy hay máy lạnh như bây giờ, phần khác một vài gia đình cho học sinh trọ học, thức khuya tốn điện nhiều họ cũng phàn nàn. Nhiều hôm chúng tôi thức đến ba bốn giờ sáng, đợi cho lò bánh mì gần đó mở cửa để mua ăn. Đêm khuya bụng đói, bánh mì mới ra lò thơm dòn, nghe nói đã thèm huống chi là được ăn.
Tôi còn nhớ một đêm học khuya, Kính tâm sự với tôi: "Kỳ thi này đậu hay không cũng phải rẽ qua một khúc quanh lớn, chắc tao không tiếp tục học được nữa. Phải đậu để may ra còn được làm quan chứ rớt làm lính thì uổng công học hành lại quê với bạn bè quá." Tôi hiểu hòan cảnh của Kính và dễ dàng thông cảm bởi vì tâm trạng tôi dạo đó cũng không khác Kính bao nhiêu, có lẽ vì vậy mà chúng tôi thân nhau.
Năm 1970 tôi có gặp Nguyễn Hã, cùng Thất 2, Lục 2… rồi B2 và cũng ở gần nhà Kính, lang thang ở Thị Nghè. Hai đứa mừng quá, thấy Hã mang lon Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến, tôi hỏi:
- Vào lính khi nào mà giờ này còn mang lon Thiếu úy?
Nó cười to thấy rõ cái răng khểnh không mấy có duyên, hỏi lại:
- Còn mày, sao giờ này cũng còn mang Thiếu úy?
- Tao bị accident nằm ấp mấy tháng, không bị lột lon đã là may.
Hã kéo áo lên cho tôi xem:
- Tao bị thương 3 lần, vừa mổ vừa vá mười mấy chỗ mới được lên Thiếu úy đó.
- Sao lạ vậy? Bị thương nhiều thì có nhiều chiến-thương bội-tinh phải lên lon mau hơn chứ?
- Tao không biết có bắn trúng được thằng nào không nhưng cứ đưa thân ra cho chúng bắn, thời gian nằm nhà thương còn nhiều hơn đi hành quân thì làm sao lên lon nhanh được. Thôi vào quán làm một chầu đi, tao sắp lãnh lương giải ngũ rồi, tao bất-khiển-dụng rồi, về làm phó thường dân, vào đây rồi muốn lên "lon" gì cũng được.
Tôi hỏi thăm Kính. Hã cho biết Kính đi Thủ Đức năm 1966 hay 1967 gì đó, ra binh chủng nào cũng không rõ.
Sau 1975 tù cải tạo về, tôi lòng vòng Nhatrang tìm đường vượt biên, gặp bạn bè cũ hỏi thăm mới biết là Kính đã tử trận từ mùa hè đỏ lửa năm 1972.
Bạn bè lúc nhỏ vào Võ Tánh thì cùng ngày, cùng tháng sau này ra trường, ra đời đứa trước đứa sau, đứa còn đứa mất; nếu còn cũng mỗi đứa một phương, nhắc lại không thể không thấy bùi ngùi.
Năm 1995 tôi về Việt Nam một lần để thăm mẹ tôi bệnh nặng sắp qua đời, lúc đó tôi đang đi làm nên chỉ được có 2 tuần nghỉ phép, không có thời giờ tìm gặp thăm lại bạn bè nhưng tôi cũng đã dành một ngày, đạp xe đạp từ Thành ra Nhatrang, thăm lại trường cũ, đi lại những con đường mà ngày xưa khi còn đi học tôi đã thường đi qua. Tôi đã tự nói đùa với mình: "một ngày cho Võ Tánh và tuổi học trò." Lúc đó trường đã có xây cất thêm vài dãy, là chuyện bình thường sau 30 năm nhưng tôi thật sự thấy lòng không vui khi thấy tên trường Võ Tánh đã đổi thành Lý Tự Trọng, mặc dù trên hai cánh cửa sắt lớn màu xanh vẫn còn hai chữ VT. Tôi rời Việt Nam năm 1984, tôi đã quen chứng kiến không biết bao nhiêu đổi thay sau tháng 4/ 75, nhưng lần này tôi cảm thấy như mình vừa mới đánh rơi mất tuổi thơ ở đây.

















































Comments